Thoạt nhìn Basho, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, người ta cứ nghĩ ba ông dường như chẳng có gì giống nhau, ngoài chuyện cả ba đều là những nhà thơ hàng đầu trong nền văn học cổ điển của mỗi dân tộc. Quả là có như vậy. Basho xuất thân là một võ sĩ, lớn lên không làm nghề gì nhất định, sống gần như một tu sĩ Thiền tông, cuối đời lang thang du hành khắp Nhật Bản. Còn Nguyễn Trãi là người anh hùng cứu quốc của dân tộc Việt Nam, là quân sư của Lê Lợi, là quan đầu triều thời Lê sơ. Nguyễn Du cũng là vị quan lớn của triều Nguyễn, làm đến chức Tham tri, Chánh sứ phái bộ sang Trung Quốc. Basho chịu ảnh hưởng sâu sắc Thiền tông, còn Nguyễn Trãi thì Nho-Lão, Nguyễn Du lại là nhà nho tài tử. Về thơ, Basho làm thơhaiku, Nguyễn Trãi làm thơ chữ Hán, thơ thất ngôn xen lục ngôn, Nguyễn Du làm thơ chữ Hán, lục bát và song thất lục bát – mỗi một thể thơ lại có những nguyên tắc mĩ học rất khác nhau v.v. và v.v.
Chúng ta có thể tìm thấy vô số những điều khác nhau giữa ba nhà thơ Nhật Bản và Việt Nam này, nhưng đằng sau những dị biệt đó, chúng ta lại thấy từ trong thẳm sâu những hồn thơ giống nhau một cách kì lạ.
1. Basho với Nguyễn Trãi
Có thể nói Basho và Nguyễn Trãi đều là những nhà thơ của thiên nhiên. Thơ của hai ông thể hiện một tình yêu thiên nhiên và một triết lí về thiên nhiên vô cùng sâu sắc. Basho và Nguyễn Trãi đều thực hiện những cuộc hành trình đến với thiên nhiên. Trên con đường đó họ cố gắng vứt đi những cái phiền toái, hư ngụy của cuộc đời thế tục để đến với tự nhiên, và cũng là đến với cái bản nguyên trong mỗi con người.
Cuộc đời của Basho là một cuộc du hành dài đi đến khắp những miền đất xa xôi của Nhật Bản. Đây là hình ảnh của ông trước khi lên đường :
“Suốt bao năm nay, như một áng mây ngàn bị cơn gió lôi cuốn, ý tưởng phiêu bạt trong tôi chẳng lúc nào nguôi, thúc giục tôi dấn bước lang thang qua các bến bờ (...) Tôi vá lại quần, thay quai nón. Ngay khi châm đầu gối bằng ngải cứu nhằm sửa soạn cho cuộc hành trình, tôi đã không ngớt miên man nghĩ đến vầng trăng ở Mat-su-shi-ma.” (Oku no hosomichi) [2]
Bước chân Nguyễn Trãi cũng đã in dấu trên nhiều miền đất Việt Nam qua cuộc kháng chiến lâu dài chống quân Minh xâm lược. Sau cuộc kháng chiến, ngay trên địa vị là công thần khai quốc của triều đại mới, Nguyễn Trãi vẫn thường ước mơ được trở về với thiên nhiên thanh sạch, hoang sơ:
Hà thời kết ốc vân phong hạ
Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên
(Bao giờ làm được nhà dưới núi mây
Múc nước suối nấu chè, gối đầu lên đá ngủ)
Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác
Cảnh thanh dường ấy chẳng về nghỉ
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào
Mạn thuật 13
Và ông đã trút bỏ công danh để sống giữa thiên nhiên với một hình hài thật giản dị:
Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh,
Áo bô quen tật bận xênh xang
Tức sự 4
Thiên nhiên như một tiếng gọi huyền bí, một mối dây ràng buộc với tâm hồn nhà thơ - “Non nước cùng ta đã có duyên” (Tự thán 4), Nguyễn Trãi đã viết như thế.
Với Basho, núi Fuji không chỉ có một ngọn núi ở ngoài đời, còn có một ngọn núi khác sống trong hồn nhà thơ, ngọn núi ấy sẽ hiện lên trong niềm luyến tiếc khi ngọn Fuji thật bị chìm trong sương:
Sương mù bao phủ Kiri shigure
Fu-ji chìm khuất rồi Fuji wo minu hi zo
núi hiện hình trong tôi. [3] omoshiroki.
Nozarashi kikô
Còn với Nguyễn Trãi, núi mây là khách khứa, bầu bạn. Vào những ngày mây mù che phủ không gặp được bạn, nhà thơ bâng khuâng, buồn bã biết bao:
Láng giềng một áng mây bạc,
Khách khứa hai ngàn núi xanh,
Có thuở biếng thăm bạn cũ,
Lòng thơ muôn dặm nguyệt canh ba.
Bảo kính cảnh giới 42
Thiên nhiên trong thơ Basho và Nguyễn Trãi có vũ trụ lớn lao: trăng sao, núi sông, hồ biển... và cũng có những vật nhỏ bé bình thường: con quạ, con ếch, con cá, con mực, chấy rận, hoa dã quì, hoa thu (hagi)... và con cò, con vện, rau muống, rau mùng tơi, hoa đào, hoa xoan... Trong mỗi một sinh vật nhỏ bé như vậy, hai thi sĩ đều thấy nó như có linh hồn, sống bình đẳng và cảm thông được với con người.
Basho lên đường đến vùng Đông Bắc xa xôi, không chỉ bạn bè lưu luyến, mà cả cá, chim cũng buồn thương:
Mùa xuân lên đường Yuku haru ya
mắt cá đẫm lệ tori naki uo no
chim chóc khóc thương. me wa namida.
Oku no hosomichi
Basho chia tay thì chim và cá khóc. Nguyễn Trãi đến thì chim mừng vui và trăng theo gánh nước mà theo về :
Khách đến chim mừng hoa xảy động
Chè tiên nước kín nguyệt đeo về
Thuật hứng 3
Nguyễn Trãi nâng niu một con cá, một cánh hoa tàn, một bóng trăng, một tiếng chim:
Đìa tham nguyệt hiện chăng buông cá
Rừng tiếc chim về ngại phát cây
Mạn thuật 6
Trăng, hoa, hương trong thơ Nguyễn Trãi như một linh hồn đang sống, hơn thế nữa, như một người bạn, một người tình. Thi nhân chở trăng về (Thuật hứng 24, Tự thán 38), để trăng đeo theo gánh nước của mình (Thuật hứng 3, 6), cho trăng xem thơ (Mạn thuật 13), hớp lấy bóng trăng (Ngôn chí 10)...Và thi nhân hé cửa đêm để chờ hương quế, thi nhân sợ một bóng hoa tan biến mất đi:
Hé cửa đêm chờ hương quế lọt
Quét hương ngày lệ bóng hoa tan
Bảo kính cảnh giới 33
Tình yêu thiên nhiên trong thơ Bashô và Nguyễn Trãi không chỉ thể hiện một mĩ cảm thông thường, đằng sau nó có cả một sự minh triết về những quy luật lớn lao và bí ẩn của vũ trụ. Những hiện tượng của tự nhiên như âm thanh, màu sắc, mùi hương... đều có sự tương giao và chuyển hóa lẫn nhau.
Tiếng nước vang lên từ cú nhảy của một con ếch cũng mang trong nó triết lí về một vũ trụ tương giao với nhau :
Ao cũ Furu ike ya
con ếch nhảy vào kawazu tobikomu
vang tiếng nước xao [4] mizu no oto Kawazu awase
Cánh hoa anh đào mỏng manh tưởng như chẳng có liên quan, tác động gì đến hồ nước, thế mà nó có thể làm mặt hồ nổi sóng. Bài haiku rất đẹp dưới đây ẩn chứa cả một triết lí sâu sắc :
Từ bốn phương trời xa Shihô yori
cánh hoa đào lả tả hana fukiirete
gợn sóng hồ Bi-wa Niho no nami
Shirouma
Tiếng ve là thanh, đá là vật. Nhưng trong cảnh u tịch, vắng lặng của chiều tà, khi tất cả đều im ắng hết lại có thể nghe được tiếng ve, tiếng ve rền rĩ như thấm vào đá :
Vắng lặng u trầm Shizukasa ya
thấm sâu vào đá iwa ni shimi iru
tiếng ve ngâm. semi no koe.
Oku no hosomichi
Một buổi sáng trên đường du hành, Basho cảm nhận thấy hương hoa mơ thoảng qua, như thực như hư, không biết từ đâu đưa lại. Cũng lúc ấy vừng đông cũng vừa hé. Mặt trời và hoa mơ, vũ trụ lớn lao và một làn hương cực kì mỏng manh có liên hệ với nhau không nhỉ? Bashô viết về điều ấy trong một bài haiku có vẻ cực kì đơn giản, có mấy câu thế này :
Trên sườn núi bất ngờ Ume ga ka ni
mặt trời mọc rực rỡ notsuto hi no deru
từ hương hoa mơ. yamaji kana.
Oi nikki
Nghệ thuật có thể tác động được vào vũ trụ - Nguyễn Trãi nói như thế. Một câu thơ hay có thể làm vầng trăng cao hơn. Liên tưởng độc đáo ấy của Ức Trai làm cho câu thơ mang dáng dấp của một câu thơ tượng trưng thời hiện đại :
Khách lạ đến, ngàn hoa chửa rụng
Câu màu ngâm, dạ nguyệt càng cao
Thuật hứng
Tiếng hát của ông chài, tiếng sáo của kẻ mục đồng có thể tác động đến hồ nước, đến cả vầng trăng trên trời :
Ngư ca tam xướng yên hồ khoát
Mục địch nhất thanh thiên nguyệt cao
(Ông chài cất lên tiếng hát làm cho mặt hồ phủ khói mở rộng ra
Trẻ mục đồng thổi một tiếng sáo làm cho trăng trên trời cao hơn)
Chu trung ngẫu thành 2
Thiên nhiên và con người không là hai mà là một – tương nhập và tương tức, con người trở về với thiên nhiên, thiên nhiên thẩm thấu vào con người. Cả Bashô và Nguyễn Trãi đều viết như vậy :
Lang thang đồng nội Nozarashi wo
để cho mưa gió kokoro ni kaze no
thấm vào hồn tôi. shimu mi kana.
Nozarashi kikô
Hái cúc ương lan hương bén áo
Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn
Thuật hứng 15
Thi nhân như Bashô, Nguyễn Trãi là những thi sĩ vĩ đại của thiên nhiên, không chỉ ở chỗ hai ông đã sáng tạo ra những câu thơ tuyệt đẹp về phong cảnh thiên nhiên, mà còn ở chỗ hai ông là những người dẫn đạo cho một cuộc hành hương lớn lao trở về với thiên nhiên, trở về với cội rễ, với nguồn sống bất tận của con người. Đó là điều mà trong thời đại thống trị của kĩ thuật như ngày nay, người ta lại càng cảm thấy hai ông có lí.
2. Basho với Nguyễn Du
Basho không phải là Thiền sư, nhưng cuộc sống của ông giống như một người tu Thiền. Một con người như thế tưởng là đã hết “thất tình lục dục”, đã hết động tâm với những hình sắc của cuộc đời. Và như vậy thì ông có gì chung đâu với Nguyễn Du, nhà thơ của niềm cảm thương, của nỗi đau đời! Không phải như thế, Basho là một thi sĩ, một hồn thơ nhạy cảm. Basho và Nguyễn Du đều là những thi sĩ của tình yêu thương. Nhiều người nghiên cứu phương Tây viết về Basho thường hay nhấn mạnh vào vấn đề mĩ học của haiku, mà ít chú ý đến thế giới tình cảm trong thơ ông. Basho không phải là một người duy mỹ chủ nghĩa, những bài thơ haiku của ông sẽ chẳng thể nào sống trong lòng người nếu nó không phải là những bài ca về tình yêu, về thân phận của con người.
Đây là những dòng haiku về tình bạn. Basho khóc cho một người tri âm, một người yêu mến thơ haiku đã chết mà mình chưa kịp gặp mặt:
Lay động nấm mồ Tsuka mo ugoke
tiếng tôi khóc bạn waga naku koe wa
gió mùa thu. aki no kaze Oku no hoso michi
Thi sĩ nhìn mùa xuân qua đi, nhưng hình bóng cố nhân ở quê cũ Ômi vẫn cứ còn lại mãi trong nỗi nhớ của mình:
Mùa xuân qua đi Yuku haru wo
sao cứ nhớ mãi Ômi no hito to
người cũ ở Ô-mi. oshimikeru
Sarumino
Cố nhân là một người trong làng phong nhã thời cổ, hay người bạn cũ, hay là nàng Juteini (Ju-tei-ni) ngày xưa?
Còn đây là những dòng haiku về tình yêu với mảnh đất mà mình gắn bó. Kyoto một thời thời tuổi trẻ, 20 năm sau trở lại, nghe tiếng chim hototogisu (đỗ quyên) :
Chim đỗ quyên hót Kyô nite mo
ở Kinh đô Kyô natsukashi ya
mà nhớ Kinh đô hototogisu
Onogahi
Ở giữa Kinh đô mà nhớ Kinh đô ngày xưa, một Kinh đô đầy kỉ niệm, một Kinh đô đẹp đẽ đã vĩnh viễn qua rồi. Đó là tiếng chim và cũng là nỗi lòng của người.
Ê-đô, quê hương thứ hai, thuở nào là đất khách, đến khi về quê, ngoảnh nhìn lại mới thấy Ê-đô thật là quê nhà:
Đất khách mười mùa sương Aki to tose
về thăm quê ngoảnh lại kaette Edo wo
Ê-đô là cố hương. sasu kokyô. Nozarashi kikô
Những bài haiku như thế khiến cho ta liên tưởng đến những bài thơ viết về tình bạn, tình quê hương của Nguyễn Du : Ký hữu, Tặng nhân, Tống Ngô Nhữ Sơn công xuất trấn Nghệ An, Mộng đắc thái liên, Long Thành cầm giả ca, Truyện Kiều ...và những bài thơ khóc tri âm của Nguyễn Du: khóc cho một người tri âm hơn 200 năm trước khổ vì “văn chương vô mệnh” (Độc Tiểu Thanh ký), một người tri âm hơn ngàn năm trước khốn cùng cả đời chỉ vì thơ hay :
Dị đại tương liên không sái lệ
Nhất cùng chí thử khởi công thi ?
Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ
(Đời khác thương nhau mà nhỏ lệ
Ông cùng đến vậy tại thơ hay ?)
Còn đây là những câu lục bát tràn trề tình cảm nhớ quê hương trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
- Đoái trông muôn dặm tử phần
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa
- Mối tình đòi đoạn vò tơ
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài
Những câu thơ trên cũng cho thấy khuynh hướng đề cao tình cảm trong sáng tác văn học là điểm chung giữa Basho và Nguyễn Du, dầu cách thức thể hiện mỗi người một khác, một đằng cố nén lại, giấu đi, còn một đằng thì bộc lộ, dãi bày.
Cũng như Nguyễn Du, Basho đi nhiều, trải nhiều, từ những đô thị náo nhiệt của những người thị dân mới phất lên đòi quyền hưởng thụ, đến những cánh đồng khô cằn, những làng quê xơ xác của những người nông dân cơ cực, đói nghèo. Ông chứng kiến không biết bao nhiêu cảnh thương tâm và ông lặng lẽ ghi lại bằng những bài haiku quen thuộc của mình. Trong thơ ông có thấp thoáng hình ảnh của chúng sinh đau khổ: những em bé nghèo, những cô gái bán thân, những người nông dân, những người đánh cá, những người lính bỏ thây nơi chiến địa..., không khác gì trong thơ Nguyễn Du, chỉ có điều ông thể hiện bằng một cách thức khác, kín đáo hơn, mơ hồ hơn, như là truyền thống của thơ ca Nhật Bản.
Một lần du hành, đi ngang qua cánh rừng, Bashô thấy một chú vượn đang lạnh run lên trong cơn mưa mùa đông. Nhà thơ thầm ước phải chi có một chiếc áo tơi che mưa, che lạnh cho khỉ. Bài haiku vang lên từ nỗi lòng ấy :
Mưa đông giăng đầy trời Hatsu shigure
một chú khỉ đơn độc saru mo komino wo
cũng mong chiếc áo tơi. hoshigenari.
Sarumino
Chú khỉ đơn độc trong bài thơ gợi lên hình ảnh những người nông dân Nhật Bản, những em bé nhà nghèo, co ro trong mưa lạnh. Bài haiku thể hiện lòng từ bi đối với cỏ cây chim muông, cũng là lòng yêu thương với những người đói khổ.
Một lần khác đi ngang qua cánh rừng, Bashô nghe thấy tiếng vượn hú. Tiếng vượn hú có gì đâu mà lạ, ta có thể gặp khá nhiều trong thơ xưa, như trong thơ Lí Bạch : “Lưỡng ngạn viên thanh đề bất tận” (Tiếng vượn đôi bờ kêu chẳng dứt), trong thơ Đỗ Phủ : “Phong cấp thiên cao viên khiếu ai” (Gió gấp, trời cao vượn nỉ non). Nhưng với Bashô, tiếng vượn ấy không phải gợi lên một nỗi bi ai trừu tượng nào đó, mà làm cho nhà thơ nhớ đến tiếng khóc thê thiết, não lòng của một em bé bị bỏ rơi trong rừng :
Vượn hú não nề Saru wo kiku hito
hay trẻ bị bỏ rơi than khóc ? sutego ni aki no
gió mùa thu tái tê. kaze ikani. Nozarashi kikô
Nhật Bản ngày xưa vào những năm mất mùa đói kém, nhiều gia đình nông dân túng quẫn quá, không nuôi nổi con, đành phải đưa con bỏ vào rừng. Thậm chí có khi còn đang tâm giết cả những đứa trẻ sơ sinh vì không nuôi nổi tất cả. Những đứa trẻ như vậy tiếng Nhật gọi là những đứa trẻ “mabiku” (tỉa bớt). Sống trong thời đại ngày nay ít ai tin có chuyện đó, vậy xin hãy nghe bài ca gọi hồn của Ujo [5], gọi những linh hồn trẻ thơ. Trẻ em bị “tỉa bớt”, linh hồn bé bỏng như những bong bóng xà phòng - đẹp, thơ dại và mong manh, không bay cao lên được, mới đến mái nhà đã vỡ tan ra :
Bong bóng xà phòng
Bay lên mái nhà
Bay lên mái nhà
Vỡ tan ra
Gió ơi đừng thổi
Bong bóng ơi bay đi
Bong bóng xà phòng vỡ tan ra
Vỡ tan ra, không bay lên được
Vỡ tan ra, khi mới chào đời
Gió ơi đừng thổi
Bong bóng ơi bay đi
Tình yêu thương của Basho dành cho trẻ em đói khổ, đoản mệnh rất gần với tâm hồn Tố Như. Chúng ta hãy nhớ lại những câu thơ nhói lòng của Nguyễn Du về những trẻ nghèo trong Sở kiến hành và Văn tế thập loại chúng sinh.
Trẻ em và phụ nữ là nơi hội tụ của những tấm lòng từ ái như Nguyễn Du và Basho. Nguyễn Du viết rất nhiều và rất xúc động về “phận đàn bà” như trong Điếu La Thành ca giả, Độc Tiểu Thanh ký, Long Thành cầm giả ca, Sở kiến hành, Truyện Kiều, Văn chiêu hồn... Ông chiêu tuyết cho những người đàn bà cùng khổ nhất - những cô gái phải bán thân nuôi miệng, với Tố Như họ chẳng phải loại người gì ô uế cả, mà chỉ là những kiếp lỡ làng:
Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Basho không viết nhiều về phụ nữ như Nguyễn Du, nhưng chỉ qua một vài bài thôi ta cũng thấy ông rất giống với Nguyễn Du. Như Nguyễn Du, ông cũng chiêu tuyết cho những cô gái bán thân (tiếng Nhật gọi là “du nữ / yùjo”), tất nhiên bằng cách riêng của ông: ông đưa họ từ bùn đen lên ngang với đồng loại, với người thi sĩ - cư sĩ, và tìm thấy ở họ vẻ đẹp của hoa :
Chung một mái trọ Hitotsu ya ni
phòng bên những du nữ ngủ yùjo mo netari
trăng và hoa thu. hagi to tsuki.
Oku no hosomichi
Ông nói giữa ông, một thi sĩ, cư sĩ với các cô “du nữ” khốn khổ kia do ngẫu nhiên mà chung một quán trọ, một quán trọ đời, có quan hệ gì với nhau không nhỉ? Không mà có, như thể ánh trăng với hoa hagi.
Đứng về phía con người, Nguyễn Du lên án chiến tranh, coi nó là việc “dãi thây trăm họ làm công một người”, ông thương những người lính “bỏ cửa nhà đi gánh việc quan”, mà chết oan uổng vì “đạn lạc tên rơi” (Văn tế thập loại chúng sinh). Qua sông Gianh, ông thương xót cho những người lính bỏ thây nơi chiến địa, trên đống xương vô định bây giờ cỏ dại mọc đầy:
Tam quân cựu bích phi hoàng diệp
Bách chiến tàn hài ngọa lục vu
Độ Linh Giang
Lũy cổ ba quân cành lá rụng
Xương khô trăm trận góc gai chồng [6]
Basho cũng có một tứ thơ gần giống như vậy:
Những chiến binh ngã xuống Natsu kusa ya
giấc mộng chưa thành tsuwamono domo ga
cỏ mùa hạ ngút xanh. yume no ato.
Oku no hosomichi
Chúng ta còn có thể nói nhiều hơn nữa về những nét tương đồng giữa hồn thơ Basho với Nguyễn Du như : tình yêu thương dành cho những phận người lam lũ, những triết lí, cảm nghiệm về cuộc đời v.v.
*
Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao một nhà thơ haiku đậm chất Thiền như Basho lại có thể tương đồng với một nhà thơ-nho sĩ như Nguyễn Trãi, đồng thời cả với một nhà nho tài tử như Nguyễn Du?
Có thể tìm câu trả lời từ những sự tương đồng giữa Basho, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du sau đây.
· &
Nguyễn Thị Thanh Minh @ 10:14 11/02/2012
Số lượt xem: 1084


Các ý kiến mới nhất