Chào mừng quý vị đến với website Chân trời mới
Nhánh Thơ Quê Huơng
Tường Linh Và Nhánh Thơ Quê Huơng

Hà Khánh Quân
Thơ là văn bản ghi lại xúc cảm của con người trước ngoại cảnh. Cảnh sắc cùng tình huống trong đời sống, luôn luôn là chất liệu và hiện diện thường trực trong diện tích mỗi bài thơ, mỗi câu thơ. Người làm thơ tùy theonhững rung động bắt gặp, để viết ra những gì mình đã cảm nhận được. Mức độ nhạy bén tùy theo từng tâm hồn. Khả năng diễn đạt tùy theo tài nghệ. Đề tài của thơ cũng giống như nhiều bộ môn nghệ thuật khác, nóichung là phong phú. Gần như người làm thơ nào, cũng đã thả lòng mình, thả ngòi bút của mình qua nhiều chủ đề khác nhau. Mức độ thành công ở mỗi chủ đề thường không đồng đều. Ở nhà thơ Tường Linh, hẳn nhiều người đồng ý, anh là một kiện tướng trong thơ tình-quê-hương. Một quê hương nồng nàn hơi thở Việt Nam nóichung, tình nghĩa thắm thiết Quảng Nam nói riêng.
Qua những thi phẩm đã ấn hành, khởi từ tập Nghìn Khuya, có mặt từ năm 1965, đến Thu Ơi, Từ Đó, Chung Dòng... cả trăm bài thơ của Tường Linh, gần như, đều có hương ruộng đồng, hương cỏ lá nông thôn, mặc dù anh cư ngụ tại phố thị gần suốt cả đời. Trong mỗi nguồn chữ viết của anh, như luôn luôn ẩn hiện những tàu cau, khóm chuối, những ao làng... cùng những hơi thở lam lũ, chân chất đậm mùi thuốc lá, chè xanh.
Điểm đặc biệt của Tường Linh và cũng là điểm chung của nhiều nhà thơ xứ Quảng Nam, rất dễ nhận ra.Đó là, thơ tình-quê-hương của họ, thường tỉ mỉ đi từ những nét riêng của vùng quê mình. Những tên sông, tên núi, tên làng xã, thậm chí đến những tên người thân yêu riêng tư, đều được họ tha thiết mang vào thơ. Những hình ảnh đã mục kích, đã bắt gặp, không thuần túy chỉ là kỷ niệm, mà đã trở thành những tế bào trong thơ họ.Tất cả những nguồn tạo ra xúc cảm ấy, sống chan hòa và hổ trợ nhau, giúp cho những câu thơ trở nên sống động. Cái hồn vía của câu thơ từ đó mà có.
Thơ tình-quê-hương hay gọn nhẹ hơn: thơ quê hương, là những bài viết dựa vào những địa danh, những kỷ niệm có từ một cảnh sắc nào đó mà thành hình. Hầu hết mọi tay thơ Việt Nam đều có viết qua. Mỗi người mỗi nét riêng. Những bài thơ về quê hương được xem là những bức họa, bức tranh, linh động hơn cả những tảng màu cụ thể. Xã hội Việt Nam vốn xuất phát từ nền tảng nông thôn, nên những bức tranh thơ trong kho văn học đang bảo quản, đa số lấy chất liệu từ những miền quê, trải dài từ bắc vào nam. Tính chất thuần hậu của người dân, cộng với cảnh sắc của thiên nhiên, đã thu hút những bàn tay thơ. Nhờ đó, góc thơ về quê hương rất phong phú.
Thơ quê hương có thể chia làm hai nhóm. Một nhóm nghiêng nhiều về tả cảnh. Tình người lồng trong bức họa, chỉ là một vài nét đơn giản, cụ thể như bài Cổng Làng của Bàng Bá Lân, bài Chợ Tết của Đoàn Văn Cừ, bài Làng Tôi của Vũ Quỳnh Bang. và nhiều bài khác của Nguyễn Bính, Anh Thơ vv... Năm khai sinh của ba bài tiêu biểu trích dưới đây khác biệt nhau. Nhưng nét chung, đặt nặng trong việc giới thiệu cảnh sắc, cảnh sinh hoạt, cuối cùng mới thòng thêm một chút cảm nghĩ riêng.
Những câu thơ trong một bài thơ, vốn là anh chị em cùng máu mủ, nên tôi không muốn có sự chia lìa.Hơn nữa tôi muốn trích trọn vẹn ba bài này, để bạn có thể dễ dàng kiểm nghiệm nhận xét trên của tôi. Hơi dài một chút. Nhưng đọc thêm một bài thơ là tăng thêm một niềm vui. Rước bạn:
chiều hôm đón mát cổng làng
gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi
đồng quê vờn lượn chân trời
đường quê quanh quất bao người về thôn
sáng hồng lơ lửng mây son
mặt trời thức giấc, véo von chim chào
cổng làng rộng mở, ồn ào
nông phu lững thững đi vào nắng mai
trưa hè bóng lặng nắng oi
mái gà cục cục tìm mồi dắt con
cổng làng vài chị gái non
dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm
những khi gió lạnh mưa buồn
cổng làng im ỉm bên đường lội trơn
nhưng khi trăng sáng chập chờn
kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha
ngày mùa lúa chín thơm đưa...
rồi đông gầy chết, xuân chưa vội vàng
mừng xuân ngày hội cổng làng
là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ
ngày nay dù ở nơi xa
nhưng khi về đến cây đa đầu làng
thì bao nhiêu cảnh mơ màng
hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre
(Bàng Bá Lân - Tiếng Sáo Diều)
Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ.
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng nghộ nghĩnh đuổi theo sau
Sương trắng giỏ đầu cành như giọt sữa.
Tia nắng tiá nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ
Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ
Để lắng nghe người khách nói bô bô
Anh hàng tranh kĩu kịt quảy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi dọn bán
Một thày khóa gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu
Áo cụ lý bị người chen lấn kéo
Khăn trên đầu đương chít cũng bung ra
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa
Những mẹt cau đỏ chót tựa son pha
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết
Con gà trống màu thâm như cục tiết
Một người qua cầm cẳng dốc lên xem
Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh
Trên con đường đi các làng hẻo lánh
Những người quê lũ lượt trở ra về
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ
(Đoàn Văn Cừ)
làng tôi nằm dựa ven sông
con đường đất đỏ ngăn dòng nước xanh
lối vào mấy khóm nhà tranh
bờ tre nhịp khúc yên lành từ xưa
rẩy mì nghiêng xuống vườn dưa
hàng cau nương bóng hàng dừa xanh xanh
trầu sang với mướp chung giàn
mạ xanh cùng với ngô vàng sớm trưa
cuộc đời sớm nắng chiều mưa
dòng sông vẫn chảy từ xưa đến giờ
dâu già đợi mãn mùa tơ
lúa ôm bờ cỏ nằm mơ thanh bình
dầu cho thế cuộc xoay vần
dân làng tôi vẫn làm lành với nhau
trao tay điếu thuốc miếng trầu
mối duyên ruộng cạn đồng sâu mấy mùa
dân làng tôi sống hiền từ
như khoai với sắn, như dừa với cau
bốn mùa cuốc bẫm cày sâu
đói no đắp đổi, sang giàu không ham
chợ chiều hẹn chuyến đò ngang
trai làng cùng với gái làng qua sông
ngập ngừng câu chuyện bông lông
hôm sau thành vợ thành chồng với nhau
ví dầu mấy cỗ trầu cau
gái làng tôi chẳng làm dâu xứ người
đã quen tiếng nói giọng cười
tình quê kết chặt duyên người yêu quê
dòng đời năm tháng không về
từ ngày giặc tới bờ tre tơi bời
vườn khoai rẩy sắn thôi tươi
và cô thôn nữ không cười trong nương
dân làng tản mác mười phương
xóm thôn hoang vắng, ruộng vườn xác xơ
tôi đi từ bấy đến giờ
đêm đêm tôi ngủ thường mơ thấy làng...
(Vũ Quỳnh Bang ,1952 - Tạp chí Bách Khoa, số 49 Sàigòn, ngày 15.01.1959)
Thơ Quê Hương thuộc nhóm thứ hai, phần giới thiệu cảnh sắc ít tỉ mỉ hơn, cái tình người được lồng vào những hình ảnh, mới là chủ yếu. Đa số những người làm thơ gốc Quảng Nam, trong đó có Tường Linh theokhuynh hướng này.
Tôi đã may mắn được đọc khá nhiều thơ Tường Linh đăng trên các tạp chí Bách Khoa, Mai, Phổ Thông, Tin Văn...và thật hạnh phúc được nghe thơ anh, từ ban Tao Đàn của đài Phát Thanh Quốc Gia (Việt Nam Cộng Hòa) qua các giọng ngâm truyền cảm, tuyệt vời: Hồ Điệp, Quách Đàm, Hoàng Thư, Thái Thủy, Tô Kiều Ngân, Hoàng Oanh...
Bài thơ đầu tiên, tôi mời bạn đọc dưới đây, mang tựa đề Quê Hương. Hai tiếng quê hương thường bao trùm tất cả mọi miền của đất nước. Có lẽ vì vậy, trong suốt bài, chúng ta không thấy Tường Linh, nêu lên một địa danh cụ thể nào. Điều này khá khác với thói quen của anh. Tuy vậy, bằng những nét tình ngậm ngùi, phủ lên từng hình ảnh, giúp chúng ta không khó nhận ra, mảnh đất nghèo khó miền Trung. Nơi vẫn còn cái nền nhà của người thi sĩ họ Nguyễn, trên con đất Trung Hạ, Trung Phước, Quế Sơn, Quảng Nam.
Ngoài ấy bây giờ chưa nắng lắm
Nhiều hoa gạo đỏ nở bên sông
Tháng giêng có tiếng chim tu hú
Khung biếc trời mai én lượn vòng
Mực nước vơi nhiều từ tháng chạp
Bờ sông hiện rõ bóng lau xanh
Nghiêng nghiêng bãi cát viền quê ngoại
Xóm bến dàn xa khuất lối quanh
Núi võ vàng mong ai nhớ ai
Tỉ tê lệ suối buồn đêm dài
Người đi từ mấy phương trời thẳm
Núi biết sao chia nỗi cảm hoài
Ngoài ấy giờ đây mùa gió mùa
Xiêu xiêu quán nhỏ bên đường trưa
Vườn cau của mẹ hoa cau rụng
Giọt sáng rơi dường giọt nước mưa
Nhà ta dựng lại trên nền cũ
Một bức tường rêu kỷ niệm mờ
Tường đứng mang linh hồn thuở trước
Chở che hai mái lá bây giờ
Bóng mẹ vào ra lối ngõ quen
Tóc sương dần xóa tóc màu đen
Nhớ con xa nhẩm lời kinh nguyện
Khuya nối nghìn khuya một ngọn dèn
Ngoài ấy... (nghe như xa cách lắm)
Mà thành xa cách cố hương ơi
Mỗi chiều ánh điện loang ngoài phố
Trông chuyến tàu ra lại ngậm ngùi...
Để giúp bài thơ quê hương, đứng vững với hơi thở lâu dài, có lẽ người làm thơ cần phải mát tay, thực hiện các việc tất yếu:
1. chọn hình ảnh thích hợp
2. từng có ít nhiều ràng buộc với hình ảnh, cảnh sắc để tình mình nương tựa
3. biết đặt cái tình vào hoàn cảnh đã hoặc đang xảy đến với không gian mình giới thiệu, nói đến.
4. cân nhắc và khéo léo trong việc chọn chữ
5. thông minh, linh hoạt trong sắp xếp ý tưởng
6. tạo ra hồn vía cho mỗi câu chữ. Biết tận dụng những xoàng xĩnh, tầm thường, vặt vảnh, và thổi vào đó cái hồn mến thương của mình, làm sao cho câu thơ có thịt da, có đời sống riêng.
Tôi đang trường kỳ tập làm thơ. Những căn bản sáng tác trên chỉ suy ra, sau khi đọc những bài thơ quê hương xuất sắc, trong đó, thơ của Tường Linh chiếm số nhiều. Giản dị vậy thôi, không dám ba hoa, làm khôn.
Cách đây khá lâu, vào một buổi tối, đi ăn cùng vài người bạn ở một quán người Việt, tại thành phố Toronto Canada. Chúng tôi tình cờ ngồi cạnh bàn một nhóm người đồng hương trung niên, đa số là đàn ông.Nhóm người này hình như là những người có tham gia vào sân chơi chữ nghĩa, hoặc ít ra họ rất sính văn thơ.Ngồi với bạn, nhưng tôi vẫn để tâm nghe lén.
Sau đề tài hội họa với cuộc triễn lãm không mấy thành công của họa sĩ Võ Đình tại Montréal, họ chuyển sang chuyện văn thơ. Tôi lắng nghe cách xưng hô, để mong nhận ra một vài danh xưng thường đọc. Rất may, đám người ấy gọi nhau với tên chữ đôi, nên tôi có cơ hội thấy mặt mũi các ông Hoàng Xuân Sơn, ông Song Thao, ông Hồ Đình Nghiêm, ông Võ Kỳ Điền...và nhiều người khác tôi đã gặp tên trên tạp chí Hợp Lưu, Thế Kỷ 21...
Trò nghe lén của tôi cuối cùng có một thu hoạch thú vị. Họa sĩ Võ Đình với mái tóc dài quá tai, đôi mắt kính khá dày, trọ trẻ giọng Huế, đề nghị một anh bạn trẻ hơn ngâm một bài thơ. Không khí bên bàn nhậu của họ thật sôi nổi, nhưng không ồn ào. Đêm cũng đã sắp chạm vào cái đỉnh đầu giờ Tý. Quán đã vắng khách.Giữa vài tiếng lẻ tẻ của những chiếc ly thủy tinh chạm nhau, không hiểu sao, tôi chợt rùng mình. Giọng ngâm thơ của người đàn ông mang tên Cường vang lên, rất lạ. Âm giọng rất Huế, rất Quảng Trị. Tôi không phân biệt được. Không tiếng sáo, tiếng đàn, nhưng giọng ngâm thật điêu luyện, càng lúc càng trôi nổi mênh mang.
Trước mắt tôi, trong lòng tôi, bềnh bồng hình bóng một người lưu lạc giang hồ, xa xứ đã lâu. Không biết hà cớ gì, anh chợt nhớ về một dòng sông. Sông lạch thì có miền nào tại Việt Nam thiếu mặt. Ngay cả Tiên Phước, núi non trùng điệp, cũng hiển hách một dòng sông Tiên, Tứ Hòa. Nước, gió, lau sậy, lục bình, trời mây, bờ bãi, con đò, cô lái thuyền... đại khái những hình ảnh đó, nuôi sống mãi những dòng sông. Nhưng hình như dòng sông, qua lời thơ đang bay có một chút gì khác biệt.
Không khác sao được, khi dòng sông của người thơ có đôi bờ đất mật, với những triền xanh, gành xám, bãi vàng. Chen chúc trên những tảng màu thơm ấy là những tên làng, tên xóm, không gọi mà vẫn nghe. Và lạ lùng, không nhìn mà vẫn thấy hai ngã của nguồn nước, nằm chung một lòng sông. Rồi khúc cạn, khúc sâu, phía lở, phía bồi cứ chập chờn hiện ra. Làm sao có thể không nhớ bóng dáng cái ổ tình một thời, đứng giữa những xiêu vẹo của cỏ cây. Từ những mùa trở gió bất nồm, con người xa xứ lâu năm, nhặt đầy tay mình những kỷ niệm. Con diều, con cá, con chim... rồi đến những dấu tích đáng buồn mở ra cuộc đời ly loạn.
Bài thơ giàu hình ảnh. Mỗi hình ảnh lấp lánh những ân tình. Tôi tưởng chừng hụt hơi khi cố bám theogiọng ngâm. Từng chữ, từng câu, từng vần điệu đã nuôi thơm giọng trầm ấm của người diễn đạt. Tôi liếc nhìn những đôi mắt lơ mơ nhắm ở phía bàn bên cạnh, chợt nhớ một câu thơ đã đọc. “Quê hương nhắm mắt nhừ sờ được” (Luân Hoán). Và chợt tưởng như mình cũng đang chạm vào những nong tằm, những bãi dâu, bãi bắp,cả những bàn chân tuổi thơ .
Dòng sông của tác giả, dù có tên là Thu Bồn hay không, dù nó có chảy trên con đất Quảng Nam hay không, qua thơ, tôi như tìm được những báu vật, những di sản của mình. “Thơ Dài Như Dòng Sông”, năm chữ của nhà thơ Triều Hoa Đại, dùng làm đề cho bài đối thoại giữa anh và người bạn thơ, thật thích hợp để mượn, gọi tên bài thơ tôi đang được nghe. Thơ đẹp và buồn nhưng vẫn ánh lên những thao thức, hy vọng. Bất tài không chuyển nổi bài thơ thành văn xuôi, tôi đành mời bạn cùng tôi, đọc lại tâm tình nhớ về một dòng sông quê nhà của Tường Linh. Bài thơ mang tên “Dòng Nhớ Thương Chảy Mãi Qua Hồn”
Tôi nghĩ về một dòng sông
dòng sông quê hương có đôi bờ đất mật
có những tên làng tôi yêu mến nhất
có triền xanh, gành xám, bãi vàng
những hàng cừ xe gió nước reo vang
những thác xiết nhọc nhằn thuyền lên ngược
nguồn hai ngã, lòng sông chung guồng nước
khúc cạn, khúc sâu, phía lở, phía bồi
sông Thu Bồn thương nhớ của ta ơi
nhà tôi ở bên bờ sông đó
mùa bấc, mùa nồm sông lồng lộng gió
hàng tre, vườn chuối xiêu xiêu
chiều nhẹ nâng cao vút cánh diều
nắng phớt lưng sườn núi tím
tháng tám nguồn về trái bòn bon ngọt lịm
ghe biển đưa lên con nục, con sòng
bè gỗ lềnh bềnh, đủng đỉnh xuôi sông
trên bãi sớm, bủa tằm nghiêng hứng nắng
điệu hát chèo ghe trong đêm bình lặng
tỏa ân tình thêm mát ánh trăng khuya
một thuở đao binh
nguồn, biển chia lìa
sông cau mặt vì bóng cờ ba sắc
ròng rã chín năm, nước sông hòa nước mắt
dòng thương đau đưa tiễn những thây người
sông hiền lành chuyển động, sóng trào sôi
người đứng dậy giành những gì sắp mất
lửa tiếp lửa, lửa tràn lan, cao ngất
tro đồn Tây xám xịt nước sông thơ
tay chị, tay anh giữ vững đôi bờ
dâu bát ngát, lô xô cờ bắp trắng
sông lấp lánh một trời mai đẹp nắng
buồm gió căng lên, phơi phới giọng hò
ngấn lệ mừng trên mặt mẹ chưa khô
chưa cào hết vụn bê tông đồn giặc
trên đôi bờ sông
để tìm lại đất
cho tay người tái tạo những mùa xanh
trời quê hương lại ngút lửa chiến tranh
bờ sông xẻ thành hào ngang, lũy dọc
măng vừa nhú, mảnh gang lìa sát gốc
cau rạp mình, la liệt xác ngàn dâu
những rặng thùy dương trụi lá, cụt đầu
nguồn tới biển: hai vành đai trắng !
tiếng dệt cửi từ lâu im vắng
về đâu người em gái Duyên Xuyên?
có nhớ sông quê hãy phác lời nguồn
với bông vải Ba Châu
với nong tằm, bủa kén
với bắp, với dâu, với mùa nước hẹn
tất cả vươn lên góp lửa nhiệt thành
trả lại dòng sông, trả lại cho anh
từng vết bàn chân trên cát vàng tuổi nhỏ
ai có về bên bờ sông đó
đếm giùm tôi bao bến nước vắng thuyền
còn sót đọt tre nào chấm mặt thủy triều lên
mấy độ trăng tròn, trăng khuyết
dòng sông trôi, dòng sông trôi biền biệt
dòng nhớ thương chảy mãi qua hồn
ơi Thu Bồn, tôi biết nói gì hơn
(tạp chí Tin Văn 1966)
Sông Thu Bồn có lưu vực rộng đến 10.350 cây số vuông, nguồn bắt đầu từ núi Ngọc Linh (cao 2.598 mét) thuộc huyện Trà My đổ ra biển Cửa Đại, sau khi chảy qua các quận, huyện Tiên Phước, Quế Sơn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An. Những địa danh vốn từng sống lộng lẫy, trong nguồn thi ca của những người làm thơ xứ Quảng.
Sông Thu Bồn mang đến cho người dân Quảng Nam, những nguồn lợi, những tự hào và cả những đau thương. Tôi không rõ có bao nhiêu nhà thơ đã trải lòng ra cùng dòng sông này. Riêng nhà thơ Tường Linh, ngoài bài trích dẫn trên, dòng sông còn cư ngụ trên rất nhiều dòng thơ của anh. Năm 1964, gia đình Tường Linh định cư tại Gia Định Sài Gòn, anh nhận được tin bão lụt tại quê nhà. Dù chẳng phải vì cơm áo, Tường Linh cũng bất lực, chỉ đành gói nỗi lo buồn của mình vào những dòng thơ:
Nhà tôi ở bên sông trống gió
Mái lá đơn sơ, cột gỗ gầy
Mùa bấc bếp chiều không lửa đỏ
Trưa nồm trở mạnh vách lung lay
Năm năm, mỗi độ đông vừa chớm
Xóm dưới làng trên ngại lụt nhiều
Dòng nước Thu Bồn thành nỗi sợ
Khi rừng xa vọng thác vang reo
Mưa… những tuần mưa nối tiếp nhau
Đôi bờ sông lớn nước dâng mau
Nước dâng ngờm ngợp, trôi cuồn cuộn
Nước ngập gần xa trắng một màu
Đồng lúa, vườn cây nước xóa nhanh
Nước xô nhà ngói, cuốn nhà tranh
Nước ngâm cỏ chết, trâu bò đói
Bốn hướng trời không chút nắng hanh
Người ở miền Trung mùa lụt tới
Nhắc nhau câu chuyện “bão năm Thìn”
Năm nay lại cũng năm Thìn nữa
Lụt đã tràn dâng, bão đã lên!
Bão đã lên, ơi xứ ta nghèo
Ai ra ngoài nớ gởi sầu theo
Có bao nhà đổ, bao người chết
Bao lúa, khoai, ngô... hóa bọt bèo!
Nhà tôi ở đó mong manh lắm
Tay mẹ làm sao chống gió cuồng?
Con ở phương Nam chiều vẫn ấm
Mà lòng như có nước sông tuôn...
Sài Gòn 18-9-1964 (Giáp Thìn)
Ngôn ngữ, vần điệu, chưa đủ vực dậy tinh thần suy sụp của người con xa xứ, Tường Linh thấy còn cần phải tiếp tục vịn vào thi ca. Và thảm cảnh trận lụt ngày 9-11-1964 (mùng 6 táng 10 âm lịch), đã được anh nhìn thấy từ trái tim bằng những nét rõ ràng, chua xót hơn:
“... sáu mươi năm lại đến ‘họa năm thìn’
thảm nạn này biết thuở nào quên
biết thuở nào quên !
một tối nước lên, nước tràn lên khủng khiếp
cả trăm người, cả ngàn người không chạy kịp
nước réo ầm ầm át tiếng kêu la
chới với ngửa nghiêng, người cuốn theo nhà
nhà theo sóng, người không thấy nữa
nhìn con trôi, mắt cha máu ứa
nhoai lên, tay vợ níu lưng chồng
rồi hai người thành hai xác giữa mênh mông...”
Dù vô cảm đến đâu, cũng có thể hình dung một cách dễ dàng, sự hung hãn điên cuồng của dòng nước bạc. Đêm tối, nước lên...ầm ầm thô bạo. Chảy, cuốn, vùi dập. chới với ngửa nghiêng, người cuốn theo nhàliên tục, vội vã. Chúng ta phải làm gì trong cương vị người cha, ngoài chuyện ứa máu mắt, quýnh quáng trong bất lực ? Từ con người chuyển sang thây xác thật dễ dàng mau lẹ. Thảm kịch cảnh xảy ra, được thuật lại như những thước phim linh động nhất và dài đến vô cùng. Tường Linh đã làm cho đồng bào cả nước rúng động, chết lặng. Tính chất xác thực, không cường điệu, cộng theo cách diễn tả, tài dùng chữ của anh giúp chúng ta thấy rõ từng góc cạnh của thiên tai, của nỗi khốn khổ của người dân miềm Trung:
“... cây nước tràn lên – cây nước phủ đầu
một “dây xác” trôi về đâu ai biết...”
Con sông không còn là dòng. Nước không còn là giọt, là sợi, hay một hình ảnh mền mại nào khác, mang bản chất của nó, mà chợt trở thành một cây, hình ảnh một thứ vũ khí. Để tạo ra người này ngột hơi, tiếp liền người kia mất dưỡng khí, nối liền nhau thành “một dây” xác.
Trận lụt năm Thìn, có lẽ vẫn đang giữa kỷ lục mức tàn phá và tàn bạo nhất của thiên nhiên trên đất nước Việt Nam. Trận lụt mà dân địa phương cho rằng nước đã nhậm chìm hòn núi Kẽm và làm xê dịch tảng đá Dừng, để chen vào giữa cuốn phăng phăng bao nhiêu sinh mạng. Riêng làng Đông An, Quế Phương Quế Sơn đã mất 1.700 người. Trong số 19 dân làng còn sống sót, không biết, về sau có ai đọc được bài thơ Thảm Nạn Quê Hương của Tường Linh ?
Nhìn ngắm, suy ngẫm rồi phóng bút theo xúc cảm, Tường Linh đã bao giờ bắt gặp những nét đẹp bình an ở nơi chôn-nhau-cắt-rún ? Tuy không nhiều lắm, nhưng cũng có đó, thưa bạn. Theo chân người thương binh trở về thăm nguyên quán, Tường Linh dung dị trong những nét thanh bình:
“... quê hương anh
mây giăng đèo Hải
chiều ấu thơ êm ả câu hò
nước mấy nguồn sông hẹn về Cửa Đại
Ngũ Hành Sơn năm cụm núi xanh lơ
anh lớn lên giữa bài ca châu thổ
những mùa thu ngọt trái Nam Trân
biển xa lộng gió
thuyền lưới đầy khoang cá trắng ngần
...
cha mẹ chỉ tay thề với núi
- mỗi ngón tay ngang một cụm Ngũ Hành
năm cụm núi không thể nào thiếu một
năm ngón tay không thể chia lìa
lời mẹ đều đều, sương rụng vườn khuya...
anh ra đi từ mùa thu bốc lửa
...
không theo về bàn tay năm ngón
nhưng về theo anh nghìn chiến công
về theo anh vẫn đầy mấy ngọn
mùa chim vui ca, cá trắng, cam hồng
anh nhìn núi Ngũ Hành năm cụm
màu núi thêm xanh
mất bàn tay, còn quê hương thắm thiết
mỗi ngón tay dâng một cụm Ngũ Hành
niềm vui hiện tại
bếp ấm ân tình
anh viết thư cho người yêu bằng tay trái
đời vẫn xanh và núi vẫn xanh
(Năm Cụm Núi Quê Hương)
Thú thật, hơn ba mươi năm về trước, khi được đọc bài thơ này, tôi đã ứa nước mắt. Lệ tràn ra không phải vì thương cảm người chiến binh, mà bất ngờ cảm thấy hạnh phúc, khi tưởng mình trong vai người thương binh của anh Tường Linh. Thật không ngờ... “từng hẹn cùng về như kẻ hành hương/ thua nhẵn tuổi hoa giữa sòng nhân thế...- TL”
Nhan sắc Quảng Nam trong thơ Tường Linh, quả thật không cụ thể bằng những nét thơ Vũ Quỳng Bang, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân... Còn nhân ảnh, tâm tình của đồng bào ruột thịt, anh phác họa thế nào ?
“... men xuân vui rào rạt đến bao giờ
âm điệu cũ tuôn qua hồn bỏ ngỏ
thảm lúa xanh rờn trên quê ta đó
mầm tương lai ghim thớ đất hồi sinh
cánh đồng quen như cánh tay mình
bè bạn, anh em bao người gửi máu
máu đã phai, hố bom không còn dấu
đợi mùa vàng mong được chút nguôi quên
chịu ơn người, đâu dễ kể từng tên
nhiều tha thiết, không đủ lời để tỏ...”
“...Trời vẫn cứ xanh, trăng vẫn sáng
Đêm thanh bình lúa nếp hong sương
Thế hệ già ngân mãi điệu quê hương
Thế hệ trẻ uống từng lời sữa ngọt
Tiếng hát truyền lưu, thiết tha, cao vút
Cầu tre, lối sỏi mấy kẻ đi về
Hẹn mùa xuân trầu cau, cheo cưới
Đất Tự do ngọt bưởi, thơm hồng
Nắng hạ, mưa đông
Bóng núi, giòng sông
Của chồng, công vợ
Hát thương, hát nhớ
Lời vắn, tình dài
Ơi những người mặc áo vá vai
Những chàng trai tuổi cằn công nợ
Những cô gái duyên tình dang dở
Những mảnh đời đói rách, long đong...”
(Dân Ca)
Quảng Nam không phải là tỉnh duy nhất của miền Trung. Nhưng nhắc đến mùa hè thiếu ăn, mùa đông thiếu áo, người dân hai miền bắc nam thường nghĩ ngay đến đất Quảng Nam. Một con đất sinh sản rất nhiều hào kiệt trong nhiều lãnh vực chính trị, quân sự, văn hóa... Để nhìn nhận cái yếu kém về kinh tế của xứ sở mình, Tường Linh vẽ hẳn ra thơ:
“... đất Quảng thân yêu, một thời tuổi nhỏ
mẹ thèm cơm, con thiếu áo long đong
nhà bên sông năm tháng nước xuôi dòng
vách nứa lung lay trưa nồm gió mạnh
bếp lửa sàn khó ngăn chiều bấc lạnh
chiếu chăn nào xua nổi rét khuya đông
Số lượt xem: 497
Các ý kiến mới nhất